Home / Giới thiệu

Giới thiệu

Vài nét giới thiệu về nhà thuốc Đông y gia truyền Hưng Xứ

Theo ngọc phả của dòng họ Cao ở Lưu Vệ – Quảng Xương – Thanh Hóa thì vào thời Lê Trung Hưng, họ Cao có hai bà tổ cô là Cúc Hoa NươngQuế Hoa Nương có nhiều công lao với đất nước nên được triều đình ban cho nhiều ân huệ, trong đó có việc được buôn thuốc và truyền bá nghề làm thuốc, được tùy chọn nơi ở và không phải nộp thuế, kể cả thuế thân. Từ kinh Bắc, một số người họ Cao theo đường thủy đến lập nghiệp tại xã Tử Vinh, tổng Tử Vinh, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) rồi lại từ đó tiếp tục xuôi về phương Nam, định cư lập nghiệp tại một số huyện của tỉnh Thanh Hóa ngày nay.

anh-nha-thoToàn cảnh nhà thờ “Lương y Minh Từ” ở thôn Tân Thượng – Thị Trấn Quảng Xương – Thanh Hóa.

Khởi tổ của họ Cao ở Lưu Vệ, Quảng Xương là ông Cao Lương Huy đến làm nghề thuốc và dạy học ở làng Thượng Thọ vào khoảng những năm đầu thế kỷ XIX. Tính đến nay, nghề làm thuốc của họ Cao ở đây đã được kế thừa đến đời thứ bảy. Tính từ ông Cao Lương Huy, đức khởi tổ của chi tộc Cao Văn thì danh y Cao Văn Tân là thế hệ thứ tư. Danh y Cao Văn Tân sinh năm Tân Tỵ (1881), mất ngày rằm tháng giêng năm Giáp Thân (1944) là bậc túc nho, lương y có tiếng vùng Lưu Vệ, Quảng Xương. Sự nghiệp của ông đã được vinh danh ở mục “Danh nhân đất nước quê hương” trong cuốn “Địa chí huyện Quảng Xương” nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa 2010. Ông Cao Văn Tân bản chất thông minh, lại chịu khó dùi mài kinh sử nên đã sớm nổi danh văn hay chữ tốt, ý lý giỏi, đặc biệt có tài làm câu đối. Ông vừa dạy học (cả chữ Nho và chữ Quốc ngữ) vừa làm thuốc không chỉ ở bản quán Lưu Vệ mà còn ở nhiều vùng khác như Nông Cống, Tĩnh Gia, Đông Sơn – Thanh Hóa, Kim Sơn, Phát Diệm, Yên Mô – Ninh Bình. Vì thế, ông còn được gọi bằng hai tên khác là ông Đồ Thanh hoặc ông Thầy Nghênh.

 

Ngoài việc chữa bệnh rất được tín nhiệm, Ông Cao Văn Tân còn miệt mài nghiên cứu sách vở, đúc kết kinh nghiệm, biên soạn y thư để truyền dạy cho học trò và mong truyền lại đời sau:

  • Về Dược liệu 3 quyền: Bản thảo phân loại Quyền Nhất, Quyển Nhị, Quyển Tam.
  • Về Y lý 4 quyển: Minh đường mạch tức yếu lược đồng tạng phủ kiêm dụng dược, Ngân hải tinh vi quang gia đạo, Soạn thuật dược khoa thông trị phụ nữ các thư bệnh tật, Tuệ nhãn thần minh trừ bách bệnh.
  • Về Thời khí 3 quyển: Cao vinh quế tiết khí tiết hậu, Tiết khí thập nhị nguyệt đồng tâm thần, Thu niên vận khí kiêm dụng dược.
  • Về Châm cứu: Châm cứu yếu lược. (Theo gia phả họ Cao)

Tổng cộng 11 quyển.

Đây là một tài sản y thuật không dễ gì có được đối với một thầy thuốc sống và làm việc ở vùng nông thôn, trong thời phong kiến. Là một trong ít người biết và truyền bá chữ quốc ngữ đầu tiên ở địa phương, ông đã dịch nhiều sách thuốc từ chữ Nho sang chữ quốc ngữ để truyền dạy cho con cháu và học trò.

Ngoài truyền dạy nghề thuốc cứu nhân độ thế theo tinh thần người xưa và trước thuật y thư, dược thư, Cao Văn Tân còn nghiên cứu một số cổ phương dược linh nghiệm, thần hiệu của cổ nhân, chế biến dưới dạng cao đơn hoàn tán thay cho loại thuốc uống phải đun nấu, sao tẩm (ẩm, thang) để người bệnh tiện dụng. Những bài thuốc hoàn tán của ông hiện còn lại đến ngày nay như Bách Thuận (chữa các bệnh tiêu hóa), Thuốc Cam(chữa một số chứng bệnh của trẻ em phổ biến như lở loét miệng lưỡi, tiêu chảy, còi xương, sâu răng…), Can viêm giải độc hoàn (chữa các bệnh về gan), Thuốc Phong Tê Thấp (chữa nhiều chứng phong), Ngũ linh thủy (chữa bệnh ngoài da), Cửu Thần Thủy (chữa bệnh cơ, xương khớp), Bách Thuận Thủy, Bách Thuận Xoang (chữa các bệnh về tai, mũi, họng)…

Thân phụ Cao Văn TânCao Văn Mậu (1858 – 1930) cũng là một thầy thuốc danh tiếng trong vùng. Sinh thời ông Mậu còn là quân sư, phụ trách chữa bệnh cho nghĩa quân của Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đức Mậu trong phong trào Cần Vương ở đia phương. Cao Văn Tân, con trai trưởng của ông Mậu được thừa kế cha mà phấn đấu thành lương y giỏi. Con trai Cao Văn TânCao Văn Xứ (1921- 1992) kế nghiệp gia truyền cũng là một thầy thuốc nổi danh trong vùng, nêu cao tinh thần sáng tạo, trong hoàn cảnh kháng chiến, thuốc Bắc khan hiếm, đã phát huy tốt “Nam dược trị Nam nhân” giai đoạn từ 1954 đến 1958,ông đã cùng Lương y Trần Ngọc Chấn (sau này là viện phó Viện y học cổ truyền quân đội), sử dụng nhiều bài thuốc gia truyền để điều trị có kết quả các bệnh mãn tính cho thương bệnh binh Miền nam tập kết ra bắc tại bệnh viện K71. Nối tiếp ông cha. Cao Hưng (1948) con trai ông Cao Văn Xứ là Đại Tá, Thạc sĩ, Dược sĩ chuyên khoa cấp II,nguyên chủ nhiệm khoa,chuyên viên kỉ thuật quân y công tác trong ngành Quân y (Trung tâm kiểm nghiệm nghiên cứu dược quân đội) từ 1972-2007. Do được công tác tại cơ sở kiểm nghiệm nghiên cứu dược đầu ngành của quân đội ông Hưng có điều kiện để đánh giá kiểm tra tác dụng của một số bài thuốc gia truyền của ông cha để lại. Một số đề tài nghiên cứu thuốc phục vụ quân đội của Trung tâm kiểm nghiệm nghiên cứu dược quân đội được nâng cao từ bài thuốc Bách Thuận như thuốc Đataxin chữa các bệnh vết thương nhiễm trùng, thuốc Tetraseptol để điều trị các bệnh lỏng lị, thuốc Ngũ linh thủy để chữa các bệnh nấm ngoài da. Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị của ông đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành y dược ở trong và ngoài nước. Vợ ông Cao Hưng, bà Đinh Thị Xuyến cũng là Dược sĩ Đại học (Trung tá Quân y, chuyên ngành bào chế). Cao Tiến Hỷ (1973) Thạc sĩ Dược học, công tác tại Viện 103 – Học viện Quân y, Cao Thị Vân Anh (1976) bác sĩ  Thạc sĩ  Y học, công tác tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam là con ông Cao Hưng và bà Xuyến. đều đang kế thừa và phát huy truyền thống gia đình.

Nói đến việc kế thừa các bài thuốc cam của cha ông phải kế đến công lao không nhỏ của hai người phụ nữ là bà Đỗ Thị Vinh (1892-1968, vợ Lương Y Cao Văn Tân) và bà Lê Thị Khái (vợ Lương Y Cao Văn Xứ). Nhiều chục năm qua hai bà đã điều trị cho hàng ngàn trường hợp trẻ em bị bệnh cam.

Hiện nay còn có ba cháu khác đang tiếp tục học tập tại các trường y dược. Tính từ đời lương y Cao Văn Mậu, gia đình dòng họ Cao ở xã Quảng Tân (nay là Thị Trấn Quảng Xương) huyện Quảng Xương có 5 thế hệ thầy thuốc đều tâm huyết với nghề y dược, đem sở đắc của mình phục vụ nhân dân với y đức “Lương y như từ mẫu”.

(Theo Địa chí huyện Quảng Xương trang 724 và báo Thanh Hóa số 28-2-2009)

         Vài nét về nhà thờ “Lương y Minh Từ”

Nhà thờ “Lương y Minh Từ” ở thôn Tân Thượng, Thị trấn Quảng Xương, Thanh Hóa thờ lương y Cao Văn Tân và các vị lương y khác đã có công khai sáng, phát triển, truyền bá nghề làm thuốc trị bệnh cứu người.

Trong khuôn viên có diện tích hơn 500 met vuông, nhà thờ “Lương y Minh Từ” đã được xây dựng theo kiểu chồng giường, kẻ bẩy, mái cong lợp ngói hài, gồm ba gian hai chái có hậu cung và hành lang bao quanh. Ngoài ba bộ cửa bằng gỗ lim nhà thờ được xây dựng hoàn toàn bằng bê  tông cốt thép sau đó sơn giả gỗ, giả đá. Người thiết kế xây dựng nhà thờ đã cố gắng lựa chọn những bức Đại Tự, Hoành Phi, Câu Đối và các biểu tượng trang trí nội ngoại thất để góp phần giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, nhớ ơn tổ tiên, tổ nghề.

 Tại “Lương y Minh Từ” các bức Đại Tự, Hoành Phi, Câu Đối được bố trí ở ba nơi: Cổng nhà thờ, cửa nhà thờ và trong nhà thờ. Cổng nhà thờ được xây dựng theo lối cổ truyền gồm một cửa chính hai cửa phụ, bình phong và thêm hai cột ngoài. Đầu các cột được trang trí theo kiểu “Nghê chầu, phượng múa, sen thơm ngát”. Cả ba cửa và hai bức bình phong, hai mặt trong ngoài đều được trang trí chữ Thọ cách điệu. Phía trên cổng, chính giữa có tên nhà thờ “Lương y Minh Từ” (nhà thờ ánh sáng Lương Y). hai  cột ngoài cùng khắc đôi câu đối:

                         “Đất mẹ có sen, sen mãi thắm
                      Trời quê ươm nắng, nắng luôn tươi”

  Câu đối ca ngợi một vùng quê tươi đẹp, luôn ấm áp ánh nắng mặt trời, cỏ cây tươi tốt hương sen thơm ngát, tràn đầy vượng khí. Câu đối nhắc cháu con cố gắng giữ gìn quê hương luôn xanh, sạch, đẹp. Càng yêu quê hương càng phải vượt qua gian khổ rèn luyện để “Đất có sen, sen lại mọc”. Ở cửa chính, bên phải có khắc bốn chữ “Quang tiền thùy hậu” (làm sáng danh người trước,để phúc đức cho người sau), bên trái có bốn chữ “Tổ củng tôn bồi” (tổ tiên gây dựng, con cháu bồi đắp). Những dong chữ ấy nhắc nhở con cháu phải luôn ra sức giữ gìn, tô điểm cho nhà thờ củng như sự nghiệp trị bệnh cứu người của gia tộc ngày càng tốt đẹp hơn. Qua cổng, vào sân ngắm nhà thờ chúng ta thấy: Nóc nhà thờ trang trí lưỡng long chầu nguyệt và búp sen, sáu đầu đao trang trí hình ly cách điệu. Tường phía trên cửa trang trí hoa sen, chính giữa có bức đại tự “Tích thụ kim hoa” (cây xưa, hoa nay; tổ tiên nào thì con cháu ấy), hai bên có các biểu tượng liên quan đến y học (âm dương ngũ hành, rắn quấn cốc) và giáo dục (sách, bút). Mười hai cánh cửa lim được trang trí cả hai mặt, ngoài các biểu tượng cách điệu về âm dương ngũ hành còn có năm bông hoa sen tượng trưng cho ngũ phúc. Gian hậu cung được trang trí cửa võng, hoành phi, câu đối và hai ban thờ. Tất cả đều được làm bằng gỗ tốt, chạm khắc tứ linh, sơn son thếp vàng. Bức hoành phi khắc bốn chữ “Y đức lưu quang”. Hai cột giữa treo đôi câu đối:

                   “Phụ tử lương y kế thiên niên quảng nghiệp
                       Nhi tôn đức dược truyền vạn đại lưu cơ”
(cha con cháu chắt nối tiếp nhau lưu truyền, quảng bá sự nghiệp lương y đức dược).

Hoành phi câu đối này nhắc cháu con phải luôn tu dưỡng, phấn đấu để giữ gìn y đức, y đạo, y thuật kế thừa phát huy truyền thống “Lương y như từ mẫu” của tổ tiên.

 Chiêm bái dâng hương xong, trước khi ra về chúng ta còn được đọc  đôi câu đối của Cao Bá Quát (Thánh Quát) trang trọng khắp phía trong cột cổng nhà thờ:

                       “Kinh thế hữu tài giai bách luyện
                           Độc thư vô tự bất thiên kim”
     (Có tài kinh bang tế thế giúp ích cho đời đề phải trải qua trăm lần tôi luyện gian khổ
     Đọc sách thánh hiền, sách hay, sách tốt thì chữ nào củng quý như ngàn vàng).

 Người xưa dạy cháu con phải cố gắng tu dưỡng rèn luyện, chăm đọc sách để có thêm nhiều kiến thức vận dụng vào cuộc sống. Có kinh qua gian khổ thì mới có thể trở thành những người hiền tài giúp ích cho nước cho dân.

 Trong tiết trời mua xuân ấm áp, cây cối xanh tươi đâm chồi nảy lộc, hoa chanh, hoa bưởi ngát thơm, được thưởng  thức hiểu biết từng câu chữ, biểu tượng khắc ở nhà thờ “Lương y Minh Từ” lòng người cảm thấy phấn chấn, lâng lâng hạnh phúc, càng thêm yêu quê, yêu đời, yêu nghề hơn.

                                 (Theo tạp san Khuyến Học Đất Thanh số 29 quý 3 năm 2014)

 

Đại tá, Thạc sỹ, DSCKII Cao Hưng, Nhà thuốc Đông y gia truyền Hưng Xứ.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *